Đề tài nghiên cứu khoa học Bệnh viện Mắt đề cử tham gia báo cáo Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc năm 2014

Đề tài nghiên cứu khoa học Bệnh viện Mắt đề cử tham gia báo cáo Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc năm 2014

 11/9/2014

 

GỬI THƯ THÔNG BÁO CHO BỆNH NHÂN ĐỤC THỂ THỦY TINH

CÓ CHỈ ĐỊNH TIẾP CẬN PHẪU THUẬT TẠI TỈNH NGHỆ AN

ThS.BS. Nguyễn Hữu Lê, ThS.BS. Nguyễn Hữu Dũng, KS. Hoàng Bích Sơn

Bệnh viện Mắt Nghệ An.

Tel: 0904171661 (Bs Lê)

 

TÓM TẮT

1. Mục tiêu:

Nghiên cứu “Gửi thư thông báo cho bệnh nhân đục thể thủy tinh có chỉ định tiếp cận phẫu thuật tại tỉnh Nghệ An” được tiến hành với các mục tiêu:

Bước đầu đánh giá hiệu quả đôn đốc bệnh nhân đục thể thủy tinh có chỉ định đi phẫu thuật bằng việc gửi thư thông báo đến tận nhà.

Tìm hiểu các yếu tố rào cản, yếu tố tăng cường việc tiếp cận dịch vụ phẫu thuật đối với bệnh nhân đục thể thủy tinh tại cộng đồng.

Đề xuất các giải pháp nhằm tăng số lượng bệnh nhân tiếp cận được dịch vụ.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp được sử dụng đánh giá hiệu quả tăng số lượng bệnh nhân đi mổ qua thư gửi thông báo đường bưu điện cho các đối tượng đã được chẩn đoán phát hiện đục thể thủy tinh gây mù tại tỉnh Nghệ An năm 2014. Chọn chủ đích 10 đối tượng đến phẫu thuật sau khi nhận thư để phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu các hàng rào cản trở tiếp cận dịch vụ.

3. Kết quả nghiên cứu.

Có 17 bệnh nhân trong số 300 thư gửi đi (5,7%) đến phẫu thuật sau khi nhận được thư; 13 bệnh nhân phẫu thuật mắt thứ 1, 4 bệnh nhân phẫu thuật mắt thứ 2. Kết quả phỏng vấn sâu chỉ ra rằng: chất lượng phẫu thuật, niềm tin cá nhân vào kết quả sau mổ là yếu tố tích cực thúc đẩy bệnh nhân đi mổ; chưa có nhu cầu phẫu thuật, thiếu người quyết định và người đi cùng, không có hỗ trợ của gia đình là các cản trở người bệnh tiếp cận dịch vụ này.

4. Kết luận

Tăng cường, nhắc lại thông tin đến tận gia đình; nâng cao chất lượng phẫu thuật, áp dụng kỹ thuật cao; thời gian nằm viện ngắn, thủ tục hành chính nhanh gọn; tổ chức xe đưa đón người bệnh tận địa phương sẽ làm tăng số lượng phẫu thuật.

Từ khóa: Đục thể thủy tinh, cản trở, chất lượng phẫu thuật, hỗ trợ gia đình.

 

Abstract

1. Purpose

Research “Postal informed letters to blindness cataract patients in community to raise up taking surgeries in Nghe An Province” with aimed:

To evaluate the primary effectiveness of informed postal letter to patients undergoing cataract surgery.

To investigate the barriers, strengthened keys for patients to seek the services in the community.

Guided line the approach solutions to get the high volume cataract surgery.

2. Methods

Mixed methods research with aimed to evaluate the effective of raising high volume cataract surgery by informed postal letter to patients whom have been detected in community at Nghe An province in 2014. In depth interviews to investigate the barriers to uptake  surgeries.

3. Results

17 patients amongst 300 sent letters (5,7%) had come to eye hospital along with letters to seek surgery;  13 of them at first eye and the others 4 at second eye. Resulting from in depth interviews to investigate the barriers to uptake  surgeries are: good quality, trust in services are positive factors; failure to understand the need for surgery, shortage decision making person and lack of  family support are reasons for not undergoing cataract surgery.

4. Conclusions.

Strengthening, frequency repeating of awareness, understanding about cataract surgery to patients and family’s members; high quality, high technique operation; shortage of hospital stay, simply of administrative procedures and free transportation are potential solutions to enrich the volume cataract surgery in the community.

Key words: Cataract, barriers, quality of operation, family’s support.

 

I. Đặt vấn đề.

Ngày nay trên thế giới đặc biệt tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đục thể thủy tinh vẫn đang là nguyên nhân đầu tiên gây nên mù lòa mặc dầu đã có nhiều giải pháp như cải tiến kỹ thuật, phẫu thuật chi phí thấp… nhằm nâng cao chất lượng, tăng số lượng (high volume cataract sergury) ca mổ. Tuy vậy vẫn còn nhiều cản trở bệnh nhân đi mổ và độ bao phủ phẫu thuật (CSR) chưa đạt được như khuyến cáo của WHO đưa ra. Tỉnh Nghệ An trong 8 tháng đầu năm 2014 chỉ có 40% trong số người được chẩn đoán, phát hiện đục thể thủy tinh gây mù tiếp cận với dịch vụ phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo bằng phương pháp Phaco tại Bệnh viện Mắt.

Một số nghiên cứu định lượng [1, 2, 3, 4, 5, 6] đã được tiến hành tìm hiểu nguyên nhân người bệnh không đi phẫu thuật, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Câu hỏi tại sao chưa đi phẫu thuật; những lý do mang tính tâm tư, quan điểm của bệnh nhân, người nhà của họ về bệnh tật cần được được khai thác và tìm hiểu nhiều hơn.

Nghiên cứu kết hợp: “Gửi thư thông báo cho bệnh nhân đục thể thủy tinh có chỉ định tiếp cận phẫu thuật tại tỉnh Nghệ An” với các mục tiêu:

+ Bước đầu đánh giá hiệu quả đôn đốc bệnh nhân đục thể thủy tinh có chỉ định đi phẫu thuật bằng việc gửi thư thông báo đến tận nhà.

+ Tìm hiểu các yếu tố rào cản, yếu tố tăng cường việc tiếp cận dịch vụ phẫu thuật đối với bệnh nhân đục thể thủy tinh tại cộng đồng.

+ Đề xuất các giải pháp nhằm tăng số lượng bệnh nhân tiếp cận được dịch vụ.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

1. Đối tượng nghiên cứu.

- Người được chẩn đoán đục thể thủy tinh gây mù đến tiếp cận với dịch vụ phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo tại Bệnh viện Mắt Nghệ An bằng phương pháp Phaco qua thư gửi thông báo năm 2014. Lấy số liệu tại Khoa khám bệnh.

2. Phương pháp nghiên cứu.

- Nghiên cứu kết hợp.

- Xử lý số liệu bằng tay, không sử dụng phần mềm thống kê nào.

- Tiến hành khám sàng lọc tại cộng đồng đến tận các Trạm Y tế xã phát hiện những bệnh nhân bị 1 mắt hoặc 2 mắt mù do đục thể thủy tinh gây nên (thị lực dưới 1/10 sau khi qua kính lỗ). Tư vấn tại chỗ, vận chuyển bệnh nhân về phẫu thuật tập trung tại Bệnh viện Mắt. Bảo hiểm y tế chi trả phẫu thuật theo chế độ quy định, bệnh nhân đồng chi trả một phần viện phí (bình quân 350.000 đồng/ca mổ). Số bệnh nhân không đi phẫu thuật được lập danh sách và gửi thư thông báo đến tận gia đình 1 tuần sau khi được chẩn đoán phát hiện. Những bệnh nhân đã mổ mắt thứ 1 tại bệnh viện, mắt thứ 2 có chỉ định phẫu thuật cũng được gửi thư 1 tuần sau khi ra viện.

- Những bệnh nhân tự đến Bệnh viện Mắt Nghệ An phẫu thuật sau khi nhận được thư gửi, được phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc họ tiếp cận dịch vụ?

3. Cỡ mẫu.

- Lựa chọn tất cả các bệnh nhân đến phẫu thuật sau khi nhận được thư gửi.

- Cỡ mẫu cho phần phỏng vấn sâu: dự kiến 10 bệnh nhân.

III. Kết quả bàn luận.

1. Kết quả ban đầu việc gửi thư thông báo đôn đốc bệnh nhân đi phẫu thuật.

Tổng số thư gửi ra là 300 thư, số người nhận được thư không thống kê được. Có 17 bệnh nhân đến phẫu thuật trong đó: 13 bệnh nhân phẫu thuật mắt thứ nhất, 4 bệnh nhân mắt thứ 2. Do số lượng còn ít, chưa có giá trị thống kê nhiều nên chúng tôi chưa đưa vào đánh giá các tỷ lệ trong nghiên cứu.

2. Hài lòng, niềm tin vào chất lượng là yếu tố tích cực tác động bệnh nhân đi phẫu thuật [2].

Chất lượng phẫu thuật là vấn đề rất được quan tâm. Trong nghiên cứu chúng tôi, những người đã mổ một mắt có chất lượng tốt việc tiếp cận và lấy thông tin rất cởi mở. Thị lực mắt đã mổ thường từ 6/10 trở lên. Bản thân họ hoàn toàn hài lòng, cảm thấy thuận lợi trong cuộc sống với mức thị lực hiện tại. Tuy vậy họ vẫn có nhu cầu phẫu thuật mắt còn lại để có được thị lực như mắt đã mổ. Bên cạnh đó niềm tin như phẫu thuật nhẹ nhàng, thủ tục hành chính đơn giản, kết quả tốt làm cho họ không lo lắng nhiều về phẫu thuật như mổ lần thứ nhất.

Thấy có xe về đưa đón, thủ tục mổ nhanh gọn. Sau mổ về nhà mắt sáng lên, không đau nhức. 10 ngày sau nhận được thư của Bệnh viện thế là chúng tôi rủ nhau đi mổ mắt còn lại.

PVS 2.PVS3. Huyện Anh Sơn.

3. Chưa có nhu cầu phẫu thuật.

Nhu cầu thị lực phục vụ công tác, sinh hoạt, giải trí….hàng này rất khác nhau giữa các đối tượng. Đặc biệt quan điểm về thị lực thấp, kém hay thị lực tốt cũng rất lệch lạc ở một số người. Ví dụ nông dân làm ruộng thường nói tôi còn nhìn rõ còn “xâu kim” được, tuy nhiên họ lại phàn nàn không nhìn thấy rõ mặt người ở một khoảng cách gần; nhưng trong quan điểm của họ như vậy thị lực là còn tốt và không đi phẫu thuật.

Tại cộng đồng chúng tôi chỉ định phẫu thuật những trường hợp đục thể thủy tinh có thị lực ≤ 1/10 sau khi đã thử qua kính lỗ. Quan sát thấy rằng tất cả những bệnh nhân đến phẫu thuật sau khi nhận được thư gửi thường không phải là người mù theo định nghĩa của WHO (thị lực < ĐNT 3m ở mắt tốt hơn sau khi chỉnh kính tối đa). Bệnh nhân vẫn sinh hoạt, đi lại trong nhà và môi trường lân cận bình thường [3]. Khi nhận được thư thông báo, bệnh nhân một lần nữa biết được bệnh của mình có thể phẫu thuật và sau phẫu thuật thị lực sẽ cải thiện tốt hơn nên đã quyết định đi mổ. Như vậy vấn đề nhắc lại, thêm một lần tư vấn làm thay đổi suy nghĩ người bệnh dẫn đến thay đổi hành vi đi phẫu thuật là rất quan trọng. Chính vì thế gửi thư thông báo rất có tác dụng.

Thực ra bà chưa muốn đi mổ đâu, đoàn khám về cũng nói là mắt bà phải mổ rồi.Nhưng bà thấy còn đi lại được, thi thoảng bà còn xâu kim được mà. Mỗi tội bữa mô nắng to là không nhìn rõ mặt người. Thấy có thư gửi về dục đi mổ nên bà đến để mổ.

PVS 1. Huyện Yên Thành.

4. Người ra quyết định phẫu thuật và người đưa đi phẫu thuật.

Người mù do đục thể thủy tinh tập trung ở nhóm người cao tuổi, cuộc sống của họ phụ thuộc vào con, cháu. Đặc biệt tại vùng nông thôn họ sống bị động, dè dặt trong việc quyết định các hành vi của mình. Tập quán nông thôn vùng đồng bằng con trai cả là người ra quyết định các việc lớn ảnh hưởng và chi phối đến những người khác trong nhà đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sức khỏe cha mẹ. Điều này rất khác với người vùng miền núi các dân tộc thiểu số, bản thân họ hoàn toàn tự quyết được không phụ thuộc nhiều vào người thứ 2. Công việc của người trụ cột trong gia đình thường cũng bận rộn, một số lại đi làm ăn xa nên người bệnh phải chờ một thời gian khi có ý kiến thống nhất từ con cháu. Sau khi gửi thư chúng tôi nhận được nhiều điện thoại từ người trong gia đình, họ hỏi về bệnh đục thể thủy tinh về cách phẫu thuật, kết quả sau mổ độ an toàn cũng như chi trả tài chính.

Vấn đề người đưa đi mổ cũng là một trong những khó khăn cho người bệnh [4,6]. Họ phải sắp xếp công việc liên quan phù hợp, phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo không phải là cấp cứu cũng là lý do để họ thấy chưa cấp bách đe dọa nhiều đến sức khỏe nên trì hoãn trong việc đưa bố mẹ đi mổ.

Tôi cũng biết bệnh phải mổ cho sáng nhưng con trai đi làm xa, không ai đưa đi cả nên phải chờ cháu về đưa đi. PVS 4. Huyện Quỳnh Lưu

IV. Kết luận.

Gửi thư là một kênh thông tin tốt cho người bệnh biết được tình trạng bệnh đục thể thủy tinh của mình cần phẫu thuật và biết được nơi cung cấp dịch vụ một cách rõ ràng [1,6]. Thông tin này có thể chia sẽ rộng rãi đến các thành viên trong gia đình. Đây là cách làm mới, ít tốn kém bước đầu có hiệu quả và chứa nhiều hứa hẹn.

Niềm tin vào chất lượng dịch vụ là yếu tố tích cực nhất thúc đẩy bệnh nhân đi phẫu thuật.

Hàng rào cản trở thấy rõ nhất là bệnh nhân chưa có nhu cầu phẫu thuật với mức thị lực hiện có.

Các giải pháp nâng cao chất lượng phẫu thuật, áp dụng kỹ thuật cao, thời gian nằm viện ngắn, thủ tục hành chính nhanh gọn, tổ chức xe đưa đón người bệnh tận địa phương sẽ làm tăng số lượng phẫu thuật.

 

 

 

V. Tài liệu tham khảo.

1. Batlle JF1Lansingh VC2Silva JC3Eckert KA4Resnikoff S5. (2014 Apr 29).

The Cataract Situation in Latin America: Barriers to Cataract Surgery. Am J Ophthalmol.

2. Bekibele CO1Murthy GV. (2012 Sep). Barriers to cataract surgery of persons screened at camps in Ibadan, Nigeria. Afr J Med Med Sci. ;41(3):257-64.

3. Kovai V1Prasadarao BVPaudel PStapleton FWilson D. (2014 Jun). Reasons for refusing cataract surgery in illiterate individuals in a tribal area of Andhra Pradesh, India.

Ophthalmic Epidemiol. ;21(3):144-52.

4. Marmamula S1Khanna RC2Shekhar K2Rao GN1. (2014 Jun). A population-based cross-sectional study of barriers to uptake of eye care services in South India: the Rapid Assessment of Visual Impairment (RAVI) project. BMJ Open.  12;4(6).

5. Zhang M1Wu XLi LHuang YWang GLam JLam DSGao YGriffiths SCongdon N. (2011 Aug). Understanding barriers to cataract surgery among older persons in rural China through focus groups. Ophthalmic Epidemiol. ;18(4):179-86.

6. Zhang XJ1Jhanji VLeung CKLi EYLiu YZheng CMusch DCChang DFLiang YBLam DS. (2014 Jun). Barriers for poor cataract surgery uptake among patients with operable cataract in a program of outreach screening and low-cost surgery in rural China. Ophthalmic Epidemiol. ;21(3):153-60

 

 

PHỤ LỤC 1

Bộ công cụ cho phỏng vấn sâu đối tượng đến phẫu thuật.

1. Đối tượng phỏng vấn: Người được chẩn đoán đục thể thủy tinh có chỉ định phẫu thuật đến tiếp cận với dịch vụ phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo tại Bệnh viện Mắt bằng phương pháp Phaco qua thư gửi thông báo năm 2014.

2. Người thực hiện phỏng vấn: các thành viên trong nhóm nghiên cứu.

3. Thời điểm phỏng vấn: Khi bệnh nhân đến Bệnh viện, xong thủ tục hành chính chờ phẫu thuật.

4. Số lượng dự kiến: 10 người

4. Bộ công cụ:

Khi xây dựng bộ công cụ dựa vào khung lý thuyết: biết được, tiếp cận được và chấp nhận được trong phẫu thuật đụ thể thủy tinh.

4.1. Chào hỏi, giới thiệu.

Chào bác, chúng cháu là cán bộ của Bệnh viện Mắt Nghệ An đang tiến hành nghiên cứu đánh giá các nguyên nhân bệnh nhân không đi mổ. Vì vậy chúng cháu làm phiền bác được trao đổi, nói chuyện cùng bác và hỏi bác một số câu hỏi nhỏ liên quan trong vòng khoảng 30 phút, rất mong được sự đồng ý của bác.

Xin phép bác được ghi âm lại cuộc trao đổi này, những thông tin trong cuộc trao đổi nói chuyện này chúng cháu chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu không sử dụng vào bất ký một mục đích nào khác. Bác và gia đình hoàn toàn yên tâm về điều đó  

4.2. Các câu hỏi liên quan đến “bệnh nhân biết được thông tin về bệnh đục thể thủy tinh không?”

-  Bác nhận được thư trong thời gian bao lâu rồi?

- Bác là người trực tiếp nhận thư hay người nhà nhận thư rồi báo cho bác biết?

- Bác hiểu hết nội dung bức thư gửi cho bác chứ ạ? Bản thân bác hay người nhà đọc thư cho bác nghe?

- Theo bác bệnh đục thể thủy tinh chữa được không và chữa như thế nào?

- Bác có biết là mình bị mù do đục thể thủy tinh gây nên và cần phẫu thuật không?

- Hiện tại sinh hoạt hàng ngày bác có gặp khó khăn về nhìn không?

- Bác có muốn mình nhìn rõ hơn không?

- Bác đã bao giờ nói chuyện bác nhìn mờ cho con cái trong nhà biết chưa?

- Ý kiến của các anh (chị) ấy như thế nào?

- Theo như bác biết thì trên địa bàn tỉnh có những nơi nào mổ đục nhân thay thể thủy tinh nhân tạo được?

4.3. Các câu hỏi liên quan đến “tiếp cận dịch vụ”

- Hôm nay bác đi một mình đến Bệnh viện Mắt à? Bác đi bằng phương tiện gì?

- Lần trước có xe ô tô đưa đón đi mổ sao bác không đi?

- Công việc ở nhà của bác có bận rộn không? Bác thường phải làm những việc gì?

- Lần này bác là người quyết định đi mổ hay con cái quyết định đưa bác đi mổ?

- Bác có sợ đau hay sợ biến chứng xẩy ra trong mổ không?

4.4. Các câu hỏi liên quan đến “chấp nhận được”

- Bác có biết người nào bị bệnh như bác đã được mổ tại Bệnh viện Mắt chưa? Sau mổ có sáng lên nhiều không?

- Ở Bệnh viện Mắt bác thấy thủ tục hành chính nhập viện có rườm rà không?

- Mức viện phí như vậy bác có gặp khó khăn gì không?

Cảm ơn bác rất nhiều về cuộc trao đổi, chúc bác có một ca phẫu thuật thành công!

 

Các tin bài khác